THUYẾT KIẾN TẠO CHO GIÁO DỤC PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI - ThS. Sc Thích Nữ Viên Hiếu
Sự nghiệp giáo dục luôn là vấn đề hết sức coi trọng, đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới Phật giáo trong giai đoạn hiện nay, với tầm quan trọng như vậy, “Giáo dục chỉ có nghĩa khi giáo dục giữ sứ mạng đánh thức cá thể và đưa ra cá thể đi trên con đường sáng tạo” 1 . (HT. Thích Minh Châu, Trước sự nô lệ của con người, tư tưởng ĐHVH, 1969, p. 15.)
Dù là giáo dục Phật học hay giáo dục xã hội, mục đích đều hướng tới kiến tạo con người, kiến tạo đời sống, kiến tạo tâm linh, để hướng tới sự tồn tại đúng với giá trị tích cực của hiện hữu. Tinh thần tự chủ trên đường sáng tạo ấy phải được phát huy thêm lên bởi mục đích giáo dục, để chuyển hóa dòng tâm thức của con người cá nhân và con người xã hội cùng hướng về đại thể. Mà giáo dục còn giúp con người tìm ra ý nghĩa của cuộc sống như một toàn thể và khám phá ra những giá trị thực tại. Ở bài viết này, xin đề cập phương pháp giáo dục dựa trên thuyết “kiến tạo”
hướng đến vận dụng cho phương pháp giáo dục Phật học phù hợp hơn với hoàn cảnh thực tại.
1. Khái niệm giáo dục và Hướng giáo dục hiện đại
1.1. Khái niệm giáo dục
Giáo dục trước tiên là giáo dục con người. Giáo dục là một quá trình tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực.
Giáo dục nguyên gốc từ tiếng La Tinh (Educare) là “làm lộ ra”, có nghĩa “giáo dục là quá trình, cách thức làm lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục”. Platon cho rằng: mục đích giáo dục là để hoàn thiện cơ thể và tâm hồn của người học.
Theo Aristotle, giáo dục là để phát triển những khả năng của con người, đặc biệt là tâm trí, để người ta có thể thưởng ngoạn được chân lí cuối cùng, cái đẹp và những điều thiện lành. Nó chuẩn bị cho đời sống của người khác, chuẩn bị cho cái toàn thể cho đờisống, phát triển đời sống tinh thần , khai mở những giá trị tâm linh. Giáo dục có thể chia thành ba mục tiêu:
Một là, giáo dục có thể tạo cho con người thành những nhân cách tốt.
Hai là, giáo dục có thể huấn luyện cho con người thành những con người tiến bộ trong niềm tin mà hoàn cảnh người đó duy trì.
Ba là, giáo dục là cách giúp con người tìm kiếm và nhận biết được sự thật bên trong họ.
1.2. Phương pháp giáo dục tất yếu hiện đại
a) Học trong hoạt động: học là một hoạt động của con người, trong đó người học vừa là chủ thể, vừa là đối tượng tác động. Bởi vậy, cách học tốt nhất là học trong hoạt động và thông qua hành động. Do đó, người thầy phải có tổ chức tình huống để đưa học trò vào hoạt động, qua đó học trò kiến tạo được kiến thức, phát triển trí tuệ và nhân cách.
b) Học giải quyết chướng ngại nhận thức: Những quan niệm sai lầm thường tạo nên những trở lực cho người học trong quá trình nhận thức. Vì thế, cần xác định, dạy học là xây dựng cái mới trên nền cái cũ.
c) Học trong tương tác: Thông qua sự tương tác giúp cho người học hiểu rõ và nắm vững hơn kiến thức. Thông qua thảo luận, tranh luận kiến thức đến với người học sẽ tự nhiên hơn, không áp đặt và gượng ép.
d) Học thông qua giải quyết các vấn đề: Khi những vấn đề được người học lưu tâm, thì joj tìm thấy được sự hứng thú và nhu cầu để giải quyết. Chính sự tò mò đã tạo cho người học quyết tâm tìm tòi câu trả lời. Đây là yếu tố tạo nên sự tích cực của hoạt động nhận thức ở người học.
2. Thuyết kiến tạo trong giáo dục hiện đại
2.1. Thuyết kiến tạo
Lý thuyết kiến tạo còn được gọi là lý thuyết của nhận thức. Lý thuyết này vạch rõ tiến trình và cách thức tổ chức hoạt động học tập của người dạy và người học.
2.1.1. Ba bước của tiến trình dạy học
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ; đây là bước cần thiết giúp cho người học ý thức được nhiệm vụ học tập.
Bước 2: Hành động giải quyết vấn đề; đây là bước giúp đỡ người học tham gia hoạt động để xây dựng kiến thức cho bản thân.
Bước 3: Tranh luận để tập hợp kiến thức và vận dụng kiến thức mới; các kiến thức của người học đưa ra có khi chưa đầy đủ, chưa thật chính xác và khoa học. Vì vậy, người dạy cần tổ chức cho người học tranh luận, qua đó bổ sung, chỉnh lí và hoàn chỉnh kiến thức mà người học cần thu nhận. Cuối cùng, người dạy tổ chức cho người học vận dụng kiến thưc mới vào những tình huống tương tự.
2.1.2. Vai trò hoạt động của người dạy
Ngày nay, dù đã tin tưởng vào nền giáo dục mới, nhưng chúng ta vẫn không quên chú trọng đến vai trò quan trọng của người thầy. Tìm lại một niềm tin trải qua bao nhiêu thời đại và chuyển biến sâu xa, là một sự kiện đáng chú ý, đáng dùng làm điểm tựa: “Thầy giáo vẫn luôn luôn là một nhà giáo dục. Chính vì vậy mà người ta bên biết cơ cấu tâm lý và tinh thần của nhà giáo dục trước hết: một hành vi hiểu biết, tình thương, thực
hiện những giá trị tinh thần và sự chặt chẽ của những nguyên tắc sư phạm” (Lê Thanh Hòang Dân và Trần Hữu Đức, Triết lý giáo dục, nxb Trẻ, 1971, p. 177).
Cũng thế, trong Đạo đức học Phật giáo của TT. Thích Giác Toàn cũng được đề cập: “Vị Tỳ kheo được mọi người gọi bằng thầy, bằng sư (Upàdhàya – Ô – lai – nhĩ, hay Satthar, Satthu), tức là vị ấy lấy đạo dạy người: Do đó, một trong những trọng trách của vị Tỳ kheo là phải giáo dục hàng tu sĩ và cư sĩ. Vị Tỳ kheo phải có cái đức giáo hóa… đó chính là giới đức, tâm đức và tuệ đức, phải là một hình ảnh gương mẫu vậy”. Bên cạnh đó, truyền thống giáo dục Phật giáo có phương pháp giáo dục “quán cơ”, đặt mối liên hệ mật thiết giữa thầy và trò. Trong đó người thầy luôn luôn quan sát trực tiếp những hành vi, cử chỉ, học tập của học trò và cách sống. Phong cách của Người thầy được biểu lộ bằng thân giáo, bằng lời nhằm khơi dây nơi học trò sự thức tỉnh trong
từng động tác.
Tạo không khí học tập
Tạo điều kiện để người học bộc lộ quan điểm riêng
Tổ chức cho người học tranh luận từ những quan điểm của họ
Tạo điều kiện và giúp người học nhận ra các quan niệm sai lầm của họ để họ tự giác khắc phục chúng
Trình bày tính chân thật các quan điểm.
2.2. Quan điểm luận về thuyết kiến tạo
Phương pháp này, chúng ta thấy rất rõ trong giáo dục “khế lí, khế cơ” của đức Phật từ thế kỉ VI trước Tây lịch. Bằng rất nhiều ngôn dụ, đức Phật nêu rõ quan điểm của Ngài về tầm quan trọng của sự phát huy cá nhân trong việc tu tập và chứng ngộ tự thân:
“Hãy tự thắp đuốc lên mà đi”, “Hãy là hải đảo nương tựa cho chính mình”, “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”…Từ Phương pháp của đức Phật không một ai bị đánh cắp hay tự đánh mất đi khả năng thực nghiệm hay chứng ngộ của mình.
Các nhà giáo dục hiện đại nhận thấy, lý thuyết này được Socrate (470-399, thế kỷ V trước Tây lịch) vận dụng phương pháp của ông được bao hàm trong chân ngôn “Hãy tự biết lấy chính mình”(connais – toi toi-même). Ông có thể dạy học trò bất cứ mọi nơi, mọi
lúc. Nơi nào ông cũng có thể biến thành trường học. Và một câu nói mà chỉ có thể là Socrate chứ không ai khác nói ra: “Tôi là người đỡ đẻ cho những bộ óc”. Jean Piaget (1896-1980), Nhà Tâm lý giáo dục, nhà triết học người Thụy sỹ, nổi tiếng về những nghiên cứu nhận thức luận về phương pháp giáo dục. Trung tâm tư tưởng trong công trình khoa học của J.Piaget bao hàm ở tác phẩm làm nên tên tuổi của ông “Sự
hình thành biểu tượng ở trẻ nhỏ” lập luận rằng: Con người trong quá trình khám phá thế giới, nó tự mình tạo nên kiến thức, tự mình tạo nên thế giới của mình. Giáo dục chỉ là sự giúp đỡ để con người có thể tự học, tự khai sáng cho mình”.
Hay với Martin Heiderger (1889-1976), có quan điểm: “Khác với tất cả “Vật tồn tại khác”, con người tồn tại theo phương thức tự hiểu ra, tự giác ngộ được sự tồn tại của mình và nhận thức được ý nghĩa cũng như giá trị của sự tồn tại của mình và từ đó nhận thức được ý nghĩa tồn tại của thế giới bên ngoài”. Với phương pháp luận này, chúng ta thấy rõ hơn về nhận định của Enstein: “ý tưởng quan trọng hơn tri thức”.
Như vậy, người dạy và người học phải vượt lên trên quan niệm kiến thức là những điều để nhớ, và kiến thức là kết quả của hoạt động kiến tạo và chỉ hình thành khi người học tích cực chủ động lấy việc học của mình. Cần loại bỏ lối áp đặt và truyền thụ một chiều như kiểu người nhồ nhét. Người học sẽ được học nhiều hơn khi họ được hấp dẫn bởi những kiễn thức họ đang tìm kiếm trong học tập kiến tạo. Học tập là quá trình tìm kiếm cách thức thử thách và khẳng định bản thân.
Điều cần thiết là phải làm sao để người học luôn phải vật lộn với những vấn đề mà họ bắt gặp trong quá trình khám phá tri thức. Giúp họ chỉ khi họ cần sự giúp đỡ. Người dạy chỉ nên định hướng việc làm, không ép họ làm theo ý của mình. Lớp học không còn là nơi thầy “đồ” theo “nhịp thước”. Có khi người thầy trở thành người học trò. Ở đây, người học sẽ phải hoạt động liên tục để tìm hiểu “cái chưa biết”. Sẽ rất
căng thẳng và mệt mỏi đối với người học. Trong vai trò “cố vấn” người dạy phải biết sắp xếp, nhắc nhở, động viên, giúp đỡ cho người học phát triển một cách phù hợp. Và đặc biệt, người dạy phải xây dựng hệ thống các vấn đề và câu hỏi trong dạy học.
3. Phương pháp giáo dục của đức Phật liên hệ thuyết kiến tạo
Đức Phật, trong công cuộc giáo hóa, thường sử dụng phương pháp thực tiễn khế cơ một cách nhuần nhuyễn, được rút ra từ nếp sống hằng ngày. Đức Phật không áp đặt tri thức, không đánh cắp năng lực tự thân và biến người được giáo dục thành kẻ đánh mất đi sự tự chủ. Phương thức giáo dục của đức Phật mang tính đại chúng và tự chủ rất rõ.
3.1. Dạy học bằng phương pháp hoạt động
Đức Phật dạy người phụ nữ bồng đứa con đã chết đến cầu xin Ngài cứu vớt. Đức Phật hướng người phụ nữ nầy đến giác ngộ bằng hoạt động kêu bà đi tìm tro (hạt cải) ở nhà nào chưa từng có người chết về để cứu đứa bé. Bà không thể tìm thấy đâu ra được những thứ mà đức Phật yêu cầu. Cuối cùng, hoạt động ấy đã khai tâm cho người phụ nữ đã được sự giác ngộ về vô thường. Đức Phật từng se chỉ, luồng kim giúp cho vị Tỷ Kheo mù lòa, hay giúp gội rửa những ô uế trên thân thể của vị Tỷ Kheo mắc bệnh ghẻ lở giúp cho họ tự ngộ được pháp hỷ của tình thương yêu, lòng từ bi vô hạn.
3.2. Dạy học giải quyết trở ngại nhận thức
Trong kinh Tương Ưng Bộ I, khi Bà la môn hào phú Bharadvàja chia phần cơm cho nông dân, ông nhìn thấy đức Phật cũng có mặt trong số những người nông dân đang đợi chia phần. Ông nói với đức Phật như sau: “Tôi cày và gieo rồi, sau khi xong việc tôi mới ăn. Này Sa môn Cù Đàm, Ngài cũng phải cày và gieo rồi sau đó mới được nhận phần cơm”. Bà la môn Bharadvàja nói. -“Này Bà la môn Bharadvàja, ta cũng cày và gieo rồi ta mới ăn”. Đức Phật khẳng định.
-“Chúng tôi không thấy Đạo sư Gotama dùng cái ách hay cái cày, sao Ngài lại bảo như thế?” Bà la môn Bharadvàja lại hỏi.
-“Ta gieo hạt giống chính kiến, cây cày là trí tuệ, tinh tấn là đôi bò kéo cày, thành quả lao động của ta là trạng thái bất tử. Bất cứ ai làm xong việc ấy sẽ đưuọc giải thoát khổ đau”. Đức Phật giải thích.
Những có dại trong quan niệm sai lầm trong nhận thức Bharadvàja được nhổ sạch bằng những lập luận thuyết phục đức Phật nêu ra. Ngài đã gieo vào tâm vị ấy những hạt giống tỉnh ngộ, và niềm tin được xây dựng”.
3.3. Dạy học bằng phương pháp liên tưởng
Có lần đức Phật và những đệ tử nhìn thấy một mãnh giấy cũ trên mặt đất. Phật bảo vị để tử nhặt mãnh giấy ấy và hỏi vị ấy đó là loại giấy dùng để làm gì. Vị để tử thưa: “Bạch đức Thế Tôn, đây là giấy dùng để gói đàn hương”. Đức Phật hỏi: “Sao Ông biết?” Vị đệ tử thưa: Bạch đức Thế Tôn “Tuy bây giờ nó không gói đàn hương, nhưng vẫn còn thơm hương chiên đàn”. Phật và đệ tử tiếp tục đi về phía trước, thấy trên đất có một sợi dây. Đức Phật bảo đệ tử nhặt sợi dây lên, Phật hỏi: “Sợi dậy ấy đã dùng để làm gì?” Vị đệ tử thưa: Bạch thế Tôn “Sợi dây này đã dùng để buộc cá”. Đức Phật hỏi: “Sao ông biết”?.Vị đệ tử thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Bây giờ tuy nó không buộc cá, nhưng nó vẫn còn tanh mùi cá.” Đức Thế tôn dạy đệ tử rằng: “Này các đệ tử! Hai vật này vốn sạch sẽ tinh khiết, do vì gặp ngoại duyên không giống nhau, cho nên mùi vị cũng thay đổi khác
nhau. Một người bình thường cũng vậy, gần gũi bạn bè hiền đức tài giỏi, lâu dần sẽ học được điều tốt. Ngược lại thân cận bạn bè xấu ác, lâu dần cũng sẽ ảnh hưởng tính nết xấu”.
(Kinh Pháp Cú thí dụ).
Hay trong kinh Giáo giới La Hầu La, đức Phật dùng chậu nước sạch rửa chân rồi mới hỏi La Hầu La, chậu nước này có thể uống đưuọc không. La Hầu la thưa với đức Phật rằng chậu nước ấy không thể uống được. Đức Phật từ đó dạy La Hầu La, nếu tâm thức con trong sáng và tốt đẹp thì con người mới có giá trị, còn tâm thức con xấu xa bất thiện thì con không có giá trịn gì cả.
Trong kinh Lăng Nghiêm có đề cập đến chuyện đức Phật giữa đại chúng đưa chiếc khăn Kiếp ba la rồi hỏi đại chúng đó là vật gì? Khi đại chúng trả lời đó là khăn Kiếp ba la. Đức Phật liền gút chiếc khăn đó thành nhiều gút. Đức Phật lại hỏi đây còn là chiếc khăn không? Đại chúng trả lời. chiếc khăn đó không thể sử dụng với chức năng của nó nữa. Để nó trở lại đúng với giá trị của nó thì cần phải tháo gút đó ra, và chỉ có thể ai gút
thì người đó biết cách tháo gút nào trước gút nào sau. Từ đó đức Phật liên hệ đến thực tế con người hữu dụng và con người vô dụng. Và có thể giải quyết con người trở về với giá trị tu tập, đó chỉ có thể là ở tự thân mỗi người.
3.4. Dạy học bằng phương pháp đặt vấn đề
Trong hệ thống kinh điển Phật giáo, những câu hỏi mà đức Phật đặt ra cho đối tượng với những vấn đề để đối thoại và tranh luận để giải quyết là điều không thể thiếu.
Trong kinh Lăng Nghiêm với cuộc đối thoại giữa đức Phật và A Nan với rất nhiều thắc mắc của cả hai thầy trò được đặt ra cho những vấn đề cần được giải quyết: Phật hỏi đại đức A Nan: Như thầy vừa nói, thân thầy ở trong giảng đường, do các cửa mở rộng mà thầy thấy được cảnh vườn rừng ở bên ngoài; vậy liệu có người nào ở trong giảng đường này, không thấy Như Lai mà thấy cảnh trí bên ngoài giảng đường chăng? Đại đức
A Nan thưa: Bạch đức Thế Tôn! Ở trong giảng đường không thấy đức Thế Tôn mà lại thấy cảnh trí bên ngoài, chuyện đó không thể có được.
Trong kinh Kim Cang có rất nhiều câu hỏi đức Phật đặt cho Tu Bồ Đề: Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể do nơi thân tướng mà thấy Như Lai chăng? Bạch đức Thế Tôn! Không thể do nơi thân tướng mà thấy Như Lai. Bởi vì sao? Vì đức Như Lai nói thân tướng đó chẳng phải thân tướng. Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: “Phàm hễ có tướng đều là hư vọng cả! Nếu nhận thấy các tướng đều không phải tướng, chính là thấy Như Lai”.
Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương đức Phật hỏi một vị Sa Môn: Sinh mạng của con người tồn tại bao lâu? Đáp rằng: “Trong vài ngày”. Phật nói: Ông chưa hiểu đạo. Đức Phật hỏi một vị Sa môn khác: Sinh mạng của con người tồn tại bao lâu? Đáp: “Khoảng một bữa ăn”. Phật nói: Ông chưa hiểu đạo. Đức Phật lại hỏi một vị Sa môn khác: Sinh mạng của con người tồn tại bao lâu? Đáp: “Khoảng một hơi thở”. Phật khen: Hay lắm!
Ông là người hiểu đạo”. Ngoài ra, trong kinh Tạng Nikaya, chúng ta cũng thấy phương pháp này đức Phật cũng vận dụng một cách xuyên suốt…Đây là số ít trong rất nhiều phương pháp mà đức Phật đã vận dụng trong cuộc đời giáo dục của Ngài vẫn còn rất giá trị và phù hợp với giáo dục Phật giáo hôm nay. Từ cơ sở những phương pháp giáo dục của đức Phật, có thể vận dụng thêm những phương thức của thuyết kiến tạo trong giáo dục hiện đại cho giáo dục tuổi trẻ phù hợp hơn với hoàn cảnh thực tại.
KẾT LUẬN
Cứ mỗi một giai đoạn lịch sử qua đi là một khám phá, một tìm tòi mới, Phật học Việt Nam – nền giáo dục Phật giáo lại dấn thêm một bước mới, một cải tiến mới, và cải tiến mãi không ngừng. Nhưng việc cải tiến ấy không chỉ riêng về phương pháp mà còn chỉ chung cho mọi phương diện có liên quan đến giáo dục và sư phạm. Hơn thế nữa, vấn đề cải tiến, cải tạo, kiến tạo giáo dục Phật học tại Học Viện Phật giáo TP, HCM phải
được định hướng trên nền giáo dục Phật giáo Việt Nam. Nghĩa là qua những điều kiện, bối cảnh của lịch sử, địa lý, phong tục… của nước nhà mà giáo dục Phật giáo tìm hiểu có chọn lọc những phương hướng giáo dục thích nghi và phát triển.
Như vậy, vấn đề khoa học và Phật học đã được đặt hàng đầu của Phật giáo đặt trọn niềm tin ở lớp kế thừa. Tuy nhiên, điều là các nhà mô phạm, các bậc lãnh đạo quan tâm nhất là vấn đề “Giới- Định Tuệ” cho Tăng-Ni sinh, cho thế hệ trẻ đa tài. Vì đó là giới thanh niên đang trong giai đoạn trau dồi học vấn và tu hành. Nói cách khác, chính vì nhằm vào đối tượng giáo dục mà người ta được biết rằng sự học của học sinh có hiệu quả nhất định khi đặt chúng trong một sinh khí an ninh cả nội tâm lẫn ngoại giới. Đó là môi trường giáo dục Phật học cho đối tượng thông qua chủ thể.
Phật học Việt Nam thời hiện đại - Con đường giáo dục ấy rất có giá trị trong hướng giáo dục con người tự thân và con người xã hội và cũng có nhiều gợi ý cho một đường hướng giáo dục để giải quyết những khủng hoảng, vướng mắc của cá nhân và xã hội cần được con người đi sâu để nghiên cứu triển khai và áp dụng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. KINH ĐIỂN
1. Kinh Giới Phân Biệt (Trung Bộ Kinh III), Kinh Phân Biệt Giới (Trung A-hàm, số 162) và Kinh Phân Biệt Lục Xứ (Trung A-hàm, số 163)
2. HT. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng Bộ, tập II. TP. Hồ Chí Minh, NXB Tôn Giáo, 2000.
3. HT. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng Bộ, tập IV. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2001.
4. Kinh Lăng Nghiêm
5. Kinh Di Đà
6. Kinh Tứ Thập Nhị Chương
7. Kinh Pháp Cú Thí Dụ
8. Kinh Tương Ưng Bộ
9. Kinh Kim Cang
II. SÁCH NGHIÊN CỨU
1. Nguyễn Thanh Hải, Thuyết Kiến Tạo Và Dạy Học Dựa Trên Lý Thuyết Kiến Tạo.
2. HT. Thích Giác Toàn, Giáo Dục Phật Giáo, Tài liệu giáo khoa phục vụ chương trình giảng dạy lớp Cao Đẳng Phật Học TPHCM, 2007.
3. Nhiều Tác Giả, Giáo Dục Phật Giáo trong Thời Hiện Đại. NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001.
4. PGS. TS. Phạm Lan Hương, Giáo Dục Quốc Tế. NXB Đại Học Quốc Gia, 2006.
5. HT. Thích Minh Châu, Chánh Pháp và Hạnh Phúc. Thành Hội Phật Giáo TPHCM, Ấn hành 1996.
6. HT. Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận. NXB Tổng Hợp TPHCM, 2006.
7. HT, Thích Thiện Siêu (dịch), Lời Phật Dạy. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2000.
8. Trần Văn Thế, Lý thuyết sư phạm, nxb Bộ Văn hóa Giáo dục.
9. Jonh Dewey - Phạm Anh Tuấn, Kinh Nghiệm Và Giáo dục, 2012.
10. Giáo dục cổ truyền và Giáo dục hiện đại (Tài liệu của tác giả Nguyễn Khánh Trung – Pháp quốc)11. Mai Thanh Thế, Giáo dục và Giáo dục Phật giáo: Bản chất và giá. trị - Viện Tâm lý học.
12. Uyên Uyên, Nghề giáo dục, Báo SGGP, ra ngày 10.01.2001.