MỞ ĐẦU
Lịch sử thông thường người ta cho rằng nó là bộ sách chép bao sự việc thuộc quá khứ. Kì thật, chất Sử vốn có ngay trong hiện tại, tức mọi biến thái trong tự thân sự vật , biến thái đó từ lúc ngay đây, cấu tạo nên chất lịch sử. Do vậy, sử gia Pháp từng nói: “L’historie autrefois et ạujourd’hui tức lịch sử của quá khứ và hiện tại. Người Ấn Độ có lối nhìn sử rất đặc biệt, cho nên họ nói: quá khứ, vị lai và hiện tại, họ quan niệm thời gian cuộn tròn. Điều này, triết học Trung Hoa cũng từng nói: “Châu nhi phục thi” nghĩa là cứ đi giáp vòng thì quay lại chổ bắt đầu.
Về lịch sử Phật giáo Việt Nam, từ khi vào Việt Nam, Phật giáo đã nhanh chóng bén rễ, dung hòa, tiếp biến với văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống người dân Việt. Thậm chí, ở những giai đoạn nhất định, Phật giáo còn trở thành yếu tố ảnh hưởng đến đời sống xã hội của con người Việt Nam trên nhiều phương diện từ vật chất đến tinh thần. Chính vì vậy, Phật giáo đã trở thành một tôn giáo gần gũi với người Việt từ bao đời nay, dung hòa với tín ngưỡng dân gian, không bài trừ những tôn giáo khác. Kể từ đó, theo dòng lịch sử khi thịnh, lúc suy dù ở giai đoạn nào thì Phật giáo vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc.
Nhiều nghiên cứu cho rằng Phật giáo vào Việt Nam vào từ khoảng thế kỉ thứ nhất trước Công nguyên, điều này được chứng minh bởi truyện “Nhất Dạ Trạch” trong tập Lĩnh Nam Chích Quái, kể lại việc Chữ Đồng Tử được học giáo lý Phật với một nhà Sư Ấn Độ tên là Phật Quang. Đặc biệt với sự hiện diện của trung tâm Phật giáo Luy Lâu và sự đóng góp của Mâu Tử, Khương Tăng Hội đã chứng minh cho sự phát triển rực rỡ của Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ thứ hai và thứ ba.
Trải qua những biến cố và thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, đến nay hơn hai mươi thế kỷ tồn tại và phát triển, Phật giáo vẫn luôn nuôi dưỡng lòng từ bi và trí tuệ cho loài người, góp phần tạo nên một trào lưu về văn hóa về tư tưởng vô cùng đặc sắc mà các nhà khoa học từ Đông sang Tây vẫn không ngừng quan tâm nghiên cứu. Trải qua quá trình hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam ngày càng ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống, văn hóa của người dân Việt Nam.
Sự góp năng lực trí tuệ vào đời sống ban sơ của dân tộc Việt Nam từ đạo Phật, đã tạo nên con người Việt Nam thông thái mọi mặt ngày nay. Vấn đề này qua thời gian dài lâu mới đưa đến kết quả sáng chói chân thật như vậy. Về tự thân đạo Phật xứ Giao Châu, thì từ khi giáo pháp Phật giáo truyền vào đời sống dân chúng, thành tinh hoa trí thức phát đạt mau lẹ, tạo thành phong cách đạo Phật Giao Châu giàu có giá trị với nhiều sự uyên bác văn tự, ngôn ngữ giáo nghĩa tinh thông qua 700 năm từ thế kỉ thứ 2 đến thế kỉ thứ 9.
Đời Đường Trung Hoa (618-906) Phật giáo phát triển rực rỡ nhất từ đời Tùy trước đó, kéo qua đời Đường, sơ Đường đến trung Đường, thời Võ Tắc Thiên (684-705) Thiền gia sản sanh Đông Đại sư, danh Tăng, Đại đức như Thần Tú, Huệ Năng, thế mà Vua Đường đã mời Pháp sư Việt Nam sang cung Vua Đường giảng kinh, thì biết được trình độ Phật học của các vị Sư Việt Nam cao lắm mới được vua Tàu chiếu cố. Hai pháp sư An Nam là Duy Giám và Phụng Đình Pháp sư đã làm cho đạo Phật đất An Nam này rựa sáng lên trong cung Vua Nhà Đường, tạo uy thế tinh thần đạo Phật khiến họ phải nể phục. Sau khi lên ngôi Đinh Tiên Hoàng đã đặt tên nước ta là Đại Cồ Việt. Sang đời Lý, vua Lý Thánh Tông đổi lại thành Đại Việt. Thế thì chúng ta thấy, đời Đinh Tiên Hoàng đạo Phật đã thịnh, sang đời lý là cực thịnh hay toàn thịnh. Đời Đinh, Lê trước thời Lý thì công hàm ngoại giao với Trung Hoa đều do các Sư đảm nhiệm, vì các Sư uyên bác văn học sâu sắc, sử dụng Hán tự thuần diệu, nên viết công hàm bằng chữ Hán mới khiến vua Tàu kính nể, làm quốc thể tăng cao giá trị học thức, trí thức. Từ sang đời Lý cho đến nữa đời Trần, văn học Việt Nam thời ấy người ta gọi là văn học thế kỉ 9,10,11,12 là văn học thiền Tông, vì lực lượng sáng tác trên các thi đàn do đa phần các Sư đảm nhiệm, Nho sĩ trực tiếp chăm lo thế sự, các Sư chăm lo bề sâu tinh thần. Đặc biệt, đời Trần chiến thắng quân Nguyên vang dội, vua Trần Nhân Tông xuất gia tu chứng quả giác ngộ, gọi là Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Ngài trở thành vị Hoàng đế đặc biệt trong lịch sử nghìn năm Vua Chúa Việt Nam, năm 2018, tại Yên Tử Quảng Ninh đã làm lễ kỉ niệm 710 năm Ngài viên tịch.
Sang cuối đời Trần, quân Minh xâm chiếm cai trị, Lê Lợi kiên trì chiến đấu và cuối cùng chiến thắng. Trở về với Đạo Phật và dân tộc Việt Nam cộng sinh như bong với hình qua chiều dài lịch sử thì ta cũng phải nhắc đến thời kì Nam, Bắc phân tranh với hai họ Trịnh, Nguyễn vào thế kỉ 17, 18. Năm 1601, Nguyễn Hoàng cất chùa Thiên Mụ (hay Linh Mụ - Huế) làm chổ dựa tinh thần, trung tâm cung cấp vũ khí tư tưởng, đạo học tâm linh văn hóa cho toàn Nam Hà. Xem thế sự gắn bó đạo Phật và nhân dân ta gắn bó cỡ nào. Truyền thống tôn kính đạo Phật, đời sống tâm linh đó phát nguồn từ chùa Nguyễn Hoàng và được tiếp nối ngày càng uy dũng bởi các Chúa đời sau. Các Chúa đời sau đều thọ Bồ Tát giới như Minh vương Nguyễn Phúc Châu (1675-1725) hiệu Thiên Túng Đạo Nhơn, pháp danh Hưng Long, Nguyễn Phúc Trú (1696-1738) con Trưởng của Phúc Châu, lên ngôi năm 1725 hiệu Vân Tuyền đạo nhơn. Nguyễn Phúc Khoát con trưởng Phúc Trú, lên ngôi năm 1738 (1714-1765), thọ Bồ Tát giới, pháp danh Phật tâm, hiệu Từ Tế Đạo Nhơn. Những vị chúa này đều thông minh, tôn sung đạo lí căn bản, Phật đạo tâm linh văn hóa sáng ngời của truyền thống dân tộc Việt hơn nghìn năm qua. Cơ nghiệp các chúa Nam Hà phát triển rực rỡ và Nam tiến trở thành bước đi vạm vỡ, cho nên đến cuối thế kỉ 18 thì cuộc Nam tiến coi như hoàn tất ngoạn mục. Đến thời Tây Sơn nổi dây, dựng đế nghiệp hơn 20 năm rồi không thích hợp phong thổ tinh thần thời thế mà diệt vong. Nguyễn Gia Long thống nhất đất nước. Pháp chiếm Nam kì cai trị 81 năm, rồi cách mạng vùng lên lật đổ, giành chủ quyền và cuối cùng chiến thắng thống nhất cả nước vào năm 1975, non song liền một dải như ngày nay.
Việt Nam vang danh thế giới về thần trí hồn tính thông minh cao ngời, văn hóa, đời sống, hiện thực tràn đầy tin tưởng lạc quan, và văn hóa tâm linh, đạo đức thâm hậu, một đạo Phật nhập thế với vô úy vĩ đại, với tình thương và sự hiểu biết không bờ bến, cho đến ngày nay tinh thần ấy vẫn được tiếp nối tỏa sáng trên sự sống, nếp nghĩ của tín đồ Phật giáo. Và sáng tỏ bật nhất cả thế giới cúi mình bái phục hai tấm gương vĩ đại của Việt Nam là Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Bồ Tát Thích Quảng Đức. Văn hóa tâm linh, nếp sống đạo đức cũng như tinh thần phẩm giá người Việt cho tới nay vẫn là sự phối kết thuần thành nền đạo lý Phật giáo và hồn tính Việt Nam.
Dù lan tỏa và phát triển sâu rộng khắp quốc gia Đại Việt, song Phật giáo Hà Nam vẫn giữ vững được dòng truyền thừa liên tục, nhất là dưới triều đại Lý Trần với những ngôi chùa Phật giáo lớn được hình thành trên đất Hà Nam.
Từ sau thế kỷ XVI, dù không còn giữ vị trí lớn chốn cung đình như giai đoạn trước, song Phật giáo lại phát triển mạnh mẽ, ăn sâu vào đời sống của thôn quê. Vì vậy, Phật giáo Hà Nam vẫn tiếp nối truyền thừa và phát triển mạnh mẽ bất chấp những thăng trầm, thiên biến của lịch sử dân tộc, của những lần tách tỉnh và nhập tỉnh với Nam Định và Ninh Bình. Đặc biệt, từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập (1981) cho đến nay, Phật giáo Hà Nam đã và đang bước vào thời kỳ phát triển mới cả chiều sâu và bề rộng. Nhiều vị Tăng xuất thân từ các sơn môn, chốn tổ ở Hà Nam đã và đang có mặt khắp nơi, góp phần vào việc xây dựng nền Phật giáo nước nhà.
Từ khi Phật giáo có mặt ở Hà Nam cho đến nay, Phật giáo luôn gắn bó đồng hành cùng dân tộc. Ngay từ buổi đầu của quốc gia Đại Cồ Việt, nhiều vị cao Tăng như Tăng Thống Đại Sư Khuông Việt – Ngô Chân Lưu, Pháp Thuận, đã đem hết tâm tài của mình ra phò vua giúp nước, xây dựng nền độc lập dân tộc. Truyền thống đồng hành cùng dân tộc ấy đã được thế hệ chư tăng Hà Nam tiếp nối, phát huy đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mĩ của dân tộc, góp phần tô thắm truyền thống của quê hương, dân tộc.
Cùng với cả nước và toàn tỉnh trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, dù xưa hay nay Phật giáo tỉnh Hà Nam không ngừng phát triển luôn “đồng hành cùng dân tộc”. Phật giáo Hà Nam đã để lại một kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng quý giá với một hệ thống toàn tỉnh Hà Nam có 539 chùa, có trên 30 chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa các cấp, kiến trúc, cách mạng. Bên cạnh đó còn có hệ thống tượng Phật, cột kinh, mộc kinh, chuông khánh đá, hoành phi, câu đối, thơ ca, hò vè, văn hóa dân gian đặc sắc, lễ hội chùa truyền thống góp phần tạo nên nền văn hóa quê hương Hà Nam đa dạng trong thống nhất.
Nhóm tư liệu gốc - Phật giáo Hà Nam được đề cập đến trong các tư liệu gốc dưới dạng các biên niên sử. Có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau đây:
Đại Nam nhất thống chí, là một bộ sách dư địa chí (địa lý – lịch sử) Việt Nam, viết bằng chữ Hán do Quốc Sử triều Nguyễn biên soạn thời vua Tự Đức. Có thể coi đây là bộ sách lớn nhất và quan trọng nhất về địa chí Việt Nam dưới thời phong kiến. Mỗi quyển chép một tỉnh trong cả nước. Đây là một quyển sách viết một cách khái quát, súc tích, ngắn gọn, mà tương đối toàn diện, giới thiệu về tỉnh Hà Nam từ lịch sử đến con người, trong đó, hệ thống chùa, đền, miếu, mạo của tỉnh cũng đã được đề cập đến. Thông qua việc miêu tả hệ thống chùa quán có thể cho chúng ta thấy được phần nào Phật giáo của tỉnh Hà Nam trong giai đoạn lịch sử thời bấy giờ.
Theo “Đại Nam nhất thống chí”, Hà Nam là tỉnh có lịch sử Phật giáo từ khá lâu đời, bằng chứng là để tưởng nhớ công ơn truyền đạo của các Thiền sư như: Hòa Thượng Thiện Bản (1884 -1962), Thiền Sư Trí Hải (1906 -1979). Trong sách có viết :“Hà Nam cũng là một trong những nơi mà đạo Phật phát triển sớm và có những trung tâm Phật giáo lớn, tiêu biểu như chùa Đọi (xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên), chùa Quỳnh Chân (xã Lam Hạ, Tp, Phủ Lý), chùa Bà Đanh (Xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng), chùa Tế Cát, Chùa Tế Xuyên…
Trung tâm Phật giáo phát triển sớm nhất của Hà Nam có lễ phải nói tới là chùa Đọi. ..Dưới chân núi Đọi có chín ngọn suối, lại có huyệt đó gọi là Hàm rồng, cửa huyệt có tượng đồng Cao Vương. Trong sách Đại Nam nhất thống chí có chép về việc dựng chùa Đọi Sơn như sau: Ở Xã Đọi Sơn, Đông Nam của huyện DuyTiên ...Đời Vua Lý Nhân Tông dựng chùa Và Bảo tháp Diên Linh, có bài ký khắc bia”. Ngôi chùa này đưuọc xây dựng trong bốn năm, từ năm niên hiệu Hội Trường Đại Khánh thứ 9 (1118) đến niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ ba (1121) mới hoàn thành. Năm Tân Sửu (1591) đời Mạc Mậu Hợp, nhân dân Đọi Sơn đã xây lại chùa, dựng lại bia. Dấu tích ba triều đại Lý – Lê – Mạc còn in đậm ở di tích này. Thời Lý - Trần, chùa Đọi là một trong những trung tâm Phật giáo của nước ta, đây cũng là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của Hà Nam khi nói về Phật giáo Hà Nam.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư tập I, II, Nxb. Văn hóa thông tin Hà Nội, năm 2006; là bộ sử lớn có giá trị về nhiều mặt, là di sản quý báu của văn hóa dân tộc. Trong bộ sử lớn này, Phật giáo Hà Nam được đề cập gắn liền với triều Lý – Trần, và sự xuất hiện các chùa tháp được xây dựng như: Tấm bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng thiện Diên Linh tháp bi dựng trên đỉnh núi Đọi năm 1121. Sách Đại Việt sử Ký toàn thư chép: “Tháng 3, ngày Mậu Dần (1122), mở hội khánh thành Bảo tháp Diên Linh ở núi Đọi”.
Cuốn Lịch triều Hiến chương loại chí (phần nhân vật chí) của Phan Huy Chú và Đại Việt sử ký tiền biên, Viện nghiên cứu Hán Nôm, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2011. Tác phẩm này về phương diện sử liệu, căn bản dựa theo Đại Việt sử ký toàn thư, những giá trị chủ yếu là ở những bình luận sắc sảo và những vấn đề văn hóa, lịch sử và thời đại. tác phẩm gồm 17 quyển, đóng thành 7 sách, trong đó 7 quyển đầu là Ngoại kỷ; 10 quyển sau là Bản kỷ. Phần Ngoại kỷ chép từ họ Hồng Bàng năm Nhâm Tuất (879 T.C.N) đến Bản kỷ thuộc Minh năm Đinh Mùi trở lên gồm 4354 năm. Phần Bản Kỷ thời Lý, Trần được trình bày ở các quyển: Quyển II, III, VI là kỷ nhà Lý với 9 đời vua, bắt đầu năm Canh Tuất, kết thúc năm Đinh Mùi, gồm 202 năm; Quyển: V, VI, VII. VIII. IX, X là kỷ nhà Trần với 12 đời Vua, phụ kỷ Hồ Quý Ly, nhà Hậu Trần 2 Vua và kỷ nội thuộc Minh, bắt đầu năm Bính Tuất, kết thúc là năm Đinh Mùi, gồm 202 năm (từ trang 231 đến 632). Phật giáo Hà Nam cũng được nhắc đến, đặc biệt trong phần viết về nhà Lý – Trần:
“Về triều Lý, vua Lý Nhân Tông rất chú ý đến chính sách khuyến nông và coi việc làm ruộng là căn bản, lúa gạo là thu nhập chủ yếu của Nhà nước phong kiến. hằng năm Vua thường thân hành xuống các địa phương đi cày ruộng tịch điền để làm gương cho thiên hạ”.
“Mùa hạ, tháng 5 niên hiệu Hội Trường Đại Khánh thứ 9 (1118), vua Lý Nhân Tông xuống thuyền theo kinh đô Thăng Long theo dòng Hà Lô (song Hồng) xuống dòng Duy Tiên, Lý Nhân của Hà Nam ngày nay. Từ Sông Hồng, đoàn thuyền theo dòng song Châu đến bến Long Lĩnh thấy một ngọn núi “tuy thế chênh vênh nhưng đỉnh bằng phẳng”, nhà vua bèn truyền lệnh neo thuyền và xuống chiếu cho các quan hộ giá: “Trẫm muốn dựng một ngôi chùa ở núi này có được không?”. Các quan tả hữu tâu rằng: “Chúng tôi nghe các cụ già ở trong làng kể rằng núi này cứ đến đầu xuân thì trời thường mưa để nhuần thấm cho muôn dân. Vậy Bệ hạ nên dựng chùa để chóng thành thiện quả”. Vua chuẩn y và đặt tên núi Long Đọi, rồi lệnh xác định phương hướng để xây chùa.
Bên cạnh đó, trong Đại Việt Sử Ký toàn thư còn ghi di tích chùa Châu, thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm đã nói tới việc vua Trần Thái Tôn lập hoàng cung ở đây, và Trần Đế Nghiên (1379) đã cho quân vận chuyển tiền đồng về để cất dấu…Chùa được gắn liền với động Phúc Long và có trên văn bia ghi Long Sơn tự Phúc Long Động (chùa Long Sơn, động Phúc Long). Động Phúc Long nằm trong khu vực núi Chùa thôn Châu, truyền thuyết và dấu tích ghi nhận là nơi các hoàng đế nhà Trần đã về đây lập kho và luyện tập quân sỹ để đi tiêu trừ giặc Chiêm Thành. Vua Trần Duệ Tông (1373 -1377) còn cho lập đền thờ trên núi chùa Châu.
Thiền Uyển tập Anh, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, Viện Nghiên Cứu Phật Học, Nxb, Văn học Ấn Hành, năm 1990, là công trình ghi lại các tông phái Thiền Học và sự tích các vị Thiền Sư nổi tiếng vào cuối thời Bắc thuộc cho đến thời Đinh, Lê, Lý, Trần. Đây là tác phẩm thuộc dòng văn học sử cho nên, không những có giá trị về lịch sử Phật giáo mà còn là một tác phẩm truyện ký có giá trị về mặt văn học, triết học, văn hóa dân gian. Trong tác phẩm này có đề cập đến một số vị thiền sư nổi tiếng gắn với con người và quê hương Hà Nam, đặc biệt là các thiền sư thời Trần, dấu ấn Phật giáo được in đậm trên những công trình kiến trúc tại Hà Nam, hiện còn lưu lại một số ít di vật còn liên quan đến các ngôi chùa thời Trần. Đó là tấm bia họ Ngô có niên hiệu Đại Trị (1358 -1369) thời vua Trần Dụ Tông (1341 – 1369).
Trong cuốn Di tích và Danh thắng Hà Nam (2004), Sở VHTT tỉnh Hà Nam có ghi chép về Bia họ Ngô được phát hiện ở chùa Dầu, thôn Trung, xã Đinh Xá, Huyện Bình Lục: “…nhà Sư hiệu “Viện tích đại sa môn” đã xin Phật Tam Thế cho phép mình từ am Đại Long chuyển về tiểu am thôn Mai, nhà Sư họ Ngô hiệu “Ngộ Không Cư Sỹ”, mất vào năm Hưng Long 13 (1305) đời vua Trần Nhân Tông…”
Tóm lại, dưới góc độ tiếp cận lịch sử, Phật giáo Hà Nam được đề cập đến không nhiều, trong những cuốn sách trên. Tuy nhiên, những nội dung được đề cập đến rất súc tích, phần nào cho chúng ta có được một cái nhìn chung nhất về Phật giáo của tỉnh trong từng thời kỳ lịch sử, đặc biệt là thời kỳ nhà Trần. Đó là nguồn tư liệu vô cùng quý giá để làm tư liệu đánh giá được lịch sử du nhập và phát triển của Phật giáo Hà Nam, các chùa di tích, trung tâm Phật giáo ở Hà Nam cũng như hệ thống chùa tháp, có vai trò của Phật giáo trong đời sống nhân dân, trong lịch sử và hình thành phát triển của tỉnh, ngoài trung tâm Phật giáo chùa Đọi ra, các ngôi chùa khác ở Hà Nam như chùa Bạch Liên (huyện duy Tiên), chùa Bầu (Tp, Phủ Lý), chùa Bà Đanh (huyện Kim Bảng), chùa Phương Khê (huyện Kim Bảng), chùa Mai Xá (huyện Lý Nhân), chùa Châu; chùa Đức Long (huyện Thanh Liêm), chùa Tế Cát, chùa Tế Xuyên…cũng đóng vai trò là các trung tâm Phật giáo của Hà Nam trong quá trình phát triển Phật giáo cùng tín ngưỡng dân gian từ xa xưa cho tới ngày nay.
Tư liệu tham khảo
Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam, đề cập đến Phật giáo Hà Nam
Đây là những công trình không trực tiếp đề cập đến Phật giáo Hà Nam, nhưng thông qua các danh thắng Phật giáo Hà Nam như: chùa Đọi, chùa Bầu, chùa Bà Đanh, chùa Thi Sơn, Chùa Phương Khê, chùa Tam Chúc, chùa Phúc Thiên, chùa Mai Xá, chùa Tế Cát, chùa Tế Xuyên, chùa Quỳnh Chân…và hành trạng chư Tăng đã tạo cho người đọc một cái nhìn về diện mạo, lịch sử của Phật giáo Hà Nam xưa và nay. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Cuốn “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” (1988) của Nguyễn Tài Thư (chủ biên) Nxb. Khoa học xã hội; Việt Nam Phật giáo sử luận tập 1 và 2 (1992) của Nguyễn Lang, Nxb. Văn Học; Lịch Sử Phật giáo Việt Nam (1999) của Lê Mạnh Thát, Nxb. Tp.Hồ Chí Minh là những bộ sách nói về toàn bộ quá trình lịch sử và phát triền của Phật giáo Việt Nam từ thời kỳ đầu du nhập cho đến hết thời Nguyễn. Trong đó, những tác phẩm này cũng đã đề cập đến quá trình phát triển của các tổ chức Phật giáo Việt Nam từ các trung tâm Phật giáo thời kỳ đầu, theo đó phát triển theo các dòng phái, tổ đình hoạt động độc lập với nhau. Đời sống sinh hoạt của tu sĩ tuân thủ đời sống sinh hoạt của tông phái.
Việt Nam Phật giáo sử luận, của Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh), Nxb Văn Học Hà Nội, 2000. Đây là công trình gồm 3 tập, đã cung cấp nhiều tư liệu quý cho giới nghiên cứu văn hóa, văn học và lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến hiện đại. Công trình này đặc biệt tác giả nhắc đến Phật giáo Hà Nam thông qua các trước tác thơ văn bia ký thòi lý như: Bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, núi Long Ðội, dựng năm 1121, do Mai Bật soạn; Bia chùa Hương Nghiêm, núi Càn Nê, làng Phủ Lý dựng năm 1124, không biết ai soạn; Bia họ Ngô được dựng vào khoảng từ năm Bính Ngọ, niên hiệu Đại Trị thứ 8 (1366) đời vua Trần Dụ Tông, đến trước năm Quang Thái (1395) đời vua Trần Thuận Tông. Điều này cho thấy, đây là thời kỳ đầu Phật giáo tỉnh Hà Nam đã phát triển và chí hướng xây dựng một nền văn hóa Việt Nam độc lập dưới sự dẫn dắt của các thiền sư rất rõ rệt.
Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến 1981), Bồ Đề Tân Thanh Nguyễn Đại Đồng, Nxb Văn Học, 2012. Đây là cuốn giới thiệu Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến năm 1981 là thời điểm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nội dung có 12 chương, trình bày Phật giáo từ khi ra đời ở Ấn Độ, lan truyền sang Trung Hoa và Việt Nam, quá trình tồn tại và phát triển của Phật giáo Việt Nam. Trong đó Phật giáo Việt Nam giai đoạn (1945 -1975) trình bày về Phật giáo Bắc Bộ, đề cập đến hành trạng chư Tăng và hoạt động cứu quốc của một số chùa miền Bắc, Hà Nam lúc đó tỉnh còn sát nhập với tỉnh Nam Định và Ninh Bình có tên Hà Nam Ninh. Tác giả có nhắc đến một số Hòa Thượng tích cực tham gia kháng chiến của tỉnh Hà Nam Ninh như: Hòa Thượng Thích Doãn Hài, Hòa Thượng Thích Thiện Bản, Hòa Thượng Thích Trí Hải, Hòa thượng Thích Thái Hòa, Hòa thượng Thích Thanh Tích, Hòa Thượng Thích Thế Long và 27 Tăng, Ni chùa Cổ Lễ tham gia cứu quốc năm 1947, và một số chùa làm cơ sở kháng chiến như: trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt là bốn năm giặc chiếm đóng Ngọc Sơn (1950-1954), chùa Bà Đanh là một cơ sở cách mạng tin cậy, một đầu mối liên lạc quan trọng trong kháng chiến, hoặc:
“ Chùa Tế Xuyên, Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, một vùng chiêm trũng nhưng gắn liền với vùng đất lịch sử anh hùng dân tộc Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và nhiều danh nhân, di tích của chốn Sơn nam hạ.”
Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam, đề cập đến các vị danh Tăng Phật giáo Hà Nam
Giai đoạn (1975-1981), tác giả đề cập đến hoạt động của những chư tăng tiêu biểu tỉnh Hà Nam Ninh và những chư Tăng xuất thân từ Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình như: Hòa Thượng Thích Thông Ban, Hòa Thượng Thích Tâm Tịch, Hòa Thượng Thích Trí Hải, Hòa Thượng Thích Đức Nhuận, Hòa Thượng Thích Thế Long, …
Tiểu Sử Danh Tăng Việt Nam thế kỷ XX, năm 1995, Thích Đồng Bổn chủ biên, Thành Hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn Hành đã nêu diện mạo Phật giáo Nam Hà được phản ánh gián tiếp qua tiểu sử và hành trạng của các vị danh Tăng, cư sĩ Phật giáo Việt Nam nói chung, trong đó có một số vị danh Tăng Hà Nam thời kỳ chấn hưng Phật giáo miền Bắc như: Hòa Thượng Thích Thiện Bản, Hòa Thượng Thích Trí Hải, Hòa thượng Thích Thanh Tích, Hòa thượng Thích Thái Hòa …Trong sách có chép các vị Hòa Thượng xuất thân từ chốn tổ Tế Xuyên Hà Nam, đây là ngôi chùa có nhiều đồ chúng tham học, kiết hạ an cư trở thành nơi tụ hội Tăng sinh lớn nhất vùng Nam xương quận Lý, như:
“Hòa Thượng Thích Doãn Hài (1874-1958), tức Tổ Tế Xuyên, thế danh Dương Văn Hiển. Năm 1889, xuất gia với tổ Bảo Khám - làng Tế Xuyên, pháp danh Tông Hiển, pháp hiệu Doãn Hài. Ngài trụ trì chùa Tế Cát và làm đương gia chốn tổ Tế Xuyên. Năm 1936, ngài làm chủ bút báo Đuốc Tuệ và trụ trì chùa Quán Sứ - Hà Nội. Năm 1951, Tổng hội PGVN được thành lập, ngài được cung thỉnh làm Chứng minh đạo s”. (Danh Tăng Việt Nam tập 1).
“Hòa Thượng Thích Thiện Bản (Tổ Cao Đà) (1884-1962), pháp danh Thông Đoan. Năm 1901 Ngài được lễ Sư tổ Phổ Tụ - Tế Xuyên (Hà Nam) tham học đạo thiền, năm 1904 Ngài đăng đàn cầu đại giới tại Tổ đình Tế Xuyên. Năm 1926 trụ trì chùa Bảo Khám – Tế Xuyên, đến năm 1930 Ngài trụ trì và xây dựng chùa bà Hướng (thôn Cao Đà, xã Nhân Mỹ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam), Ngài còn trùng tu các chùa Vạn Thọ (1932), Điện Bàn (1936), Đô Quan (1942). Năm Mậu Tuất (1958), Ngài là trưởng đoàn Phật giáo đến yết kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ Tịch, Hà Nội. Ngài được suy tôn vào ban Chứng minh đạo Sư Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam. Năm 1959, Ngài làm chủ các khóa hạ tại Tổ đình Tế Xuyên, làm thầy Hòa Thượng các giới đàn của tỉnh Hà Nam. Năm 1962, Hòa Thượng an nhiên xả báo thân thâu thần thị tịch.” (Tiểu Sử Danh Tăng Việt Nam, tập 2).
Hòa thượng Thích Trí Hải (1906-1979), xuất gia năm 17 tuổi với tổ Thông Dũng - chùa Mai Xá - Hà Nam. Năm 1924, ngài thành lập đoàn Thanh niên Tăng lấy tên Lục Hòa Tịnh Lữ. Năm 1930, ngài trụ trì chùa Phú Đa - Bình Lục - Nam Hà. Năm 1932, ngài và một số vị thành lập Ban Phật học Tùng thư để phiên dịch và ấn hành kinh sách phổ biến cho Phật tử. Năm 1934, hưởng ứng phong trào chấn hưng, ngài cùng một số Tăng ni Phật tử có uy tín đứng ra thành lập hội Bắc kỳ Phật giáo, đặt trụ sở trung ương tại chùa Quán Sứ - Hà Nội. Năm 1935, ngài cùng Hội xuất bản tuần báo Đuốc Tuệ và lập nhà in. Năm 1951, Tổng hội PG Việt Nam được thành lập, ngài được bầu làm Trị sự trưởng Giáo hội Tăng già toàn quốc, tác phẩm ngài để lại rất nhiều trên 50 đầu tên tác phẩm : Nhập Phật nghi tắc; Nghi thức tụng niệm; Khôn sống; Gia đình giáo dục; Truyện Phật Thích Ca; …ngài viên tịch năm 1979”. (Danh Tăng Việt Nam tập 1).
Hòa thượng Thích Thái Hòa (1901-1969), xuất gia năm 1910 với tổ Thông Dũng - chùa làng Mai Xá. Ngài theo học tại tổ đình Tế Xuyên Bảo Khám - Hà Nam. Năm 1931, ngài về trụ trì chùa Tú Uyên- Hà Nam, Năm 1932 ngài cùng HT Trí Hải vận động thành lập hội Bắc kỳ Phật giáo, đến năm 1934, hội được phép thành lập, ngài được giao soạn thảo các văn bản chữ Hán và tham gia Ban biên tập báo Đuốc Tuệ. Năm Năm 1958, Hội PG Thống nhất Việt Nam được thành lập, ngài làm Tổng thư ký của Hội. Năm 1969, ngài xả báo thân. Danh Tăng Việt Nam tập 3.
Cũng vậy, các vị danh Tăng có nguyên quán tại đất Hà Nam như:
Hòa thượng Thích Thanh Tích (1881-1964), trụ trì chùa Hương Tích - Hà Đông, pháp hiệu Phổ Minh. Năm 1945, ngài cử làm Giám viện chùa Hương. Năm 1931, được tổ truyền giao chức trụ trì chùa Hương Tích. Năm 1934, ngài được cung thỉnh Chứng minh đạo sư của hội Phật giáo Bắc Kỳ. Ngài có công trùng tu hơn 10 ngôi chùa lớn nhỏ và trùng san, khắc bản in các bộ kinh luật luận: Duy Ma Cật Kinh; Yết Ma Chỉ Nam; Giải Thâm Mật Kinh;... Danh Tăng Việt Nam, tập 1.
Hòa thượng Thích Thanh Chân (1905 -1989), xuất gia với tổ Thanh Tích - chùa Hương Tích, pháp hiệu Nhẫn Nhục. Năm 1921, ngài tìm đến tham học với tổ Bằng Sở- chùa Phúc Khánh. Năm 1925, ngài về trụ trì chùa Quỳnh Chân - Nam Hà (nay thuộc Thành Phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam). Năm 1956, ngài chính thức trụ trì chùa Hương Tích. Trong giai đoạn 1945-1954, ngài là ủy viên Mặt trận Việt Minh các cấp và thành viên sáng lập hội PG Cứu quốc Liên khu 3, chủ bút báo Diệu Âm. Năm 1958 ngài là Chứng minh đạo sư kiêm thành viên BTS Trung ương hội PG Thống nhất Việt Nam, đồng thời là Chi hội trưởng PG tỉnh Hà Sơn Bình. Năm 1975, ngài cùng phái đoàn PG vào Nam xúc tiến thống nhất PG toàn quốc. Năm 1981, GHPGVN thành lập, ngài được cử làm Phó chủ tịch HĐTS GHPGVN, ngài tịch vào ngày 12 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (17-02- 1989), thọ 85 tuổi với 70 năm hành đạo, nguyên quán Hà Nam. Danh Tăng Việt Nam tập 1.
Qua đây chúng ta thấy rằng, các vị Hòa Thượng đã chung xây dựng Phật học Miền Bắc, và đóng góp trí tuệ tài năng và vật lực duy trì tiếng nói của Phật giáo Miền Bắc nói chung, Phật giáo Hà Nam nói riêng.
Bài viết của Hòa Thượng Thích Bảo Nghiêm biên soạn về các vị danh tăng Hà Nam như: Hòa Thượng Thích Thông Ban (…1997), Hòa Thượng Thích Tâm Tịch (1915-2005), Hòa Thượng Thích Thanh Bích (1913-2013) trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo và danh Tăng thời nay:
Hòa Thượng Thích Thông Ban (.?..1997), Thành Viên Hội Đồng chứng minh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Trưởng Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật giáo Hà Nam.
Hòa thượng Thích Tâm Tịch (1915-2005), Pháp chủ GHPGVN, xuất gia năm 1935 với HT Thiện Bản Thông Đoan - chùa Cao Đà - Lý Nhân - Hà Nam, pháp hiệu Như Sơn. Từ năm 1981-2001, ngài được thỉnh làm Đàn đầu truyền giới tại chùa Quán Sứ.: Năm 1958, ngài làm Giám tự tùng lâm Quán Sứ; năm 1962, kế thế trụ trì chùa Cao Đà; năm 1979, trụ trì chùa Bồ Đề - Hà Nội; năm 1981, trụ trì chùa Quán Sứ; năm 1997, viện chủ tổ đình Tế Xuyên - Hà Nam. Năm 1958, ngài là Ủy viên TW Hội PG Thống nhất Việt Nam, kiêm Ủy viên MTTQ TP Hà Nội; năm 1972, Ủy viên Ban Nghi lễ TW; năm 1976-1981, Ủy viên Thường trực Hội PG Thống nhất Việt Nam; năm 1983, Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh GHPGVN; năm 1992, Phó Pháp chủ GHPGVN; năm 1997, Pháp chủ GHPGVN. Ngài thị tịch ngày 26 tháng Giêng năm Ất Dậu (06-3-2005).
Hòa Thương Thích Thanh Bích (1913-2013), trưởng sơn môn Tế Xuyên Bảo Khám - Hà Nam. Năm 2012, ngài được GHPGVN cung thỉnh vào ngôi vị Phó Pháp chủ GHPGVN. Ngài xả báo thân 2013.
Điều này cho chúng ta thấy rằng, theo dòng chảy lịch sử Phật giáo tỉnh Hà Nam rất phát triển dưới sự dẫn dắt của chư vị Tổ Sư, chùa Tổ đình Tế Xuyên và vùng đất Hà Nam là nơi sinh ra những bậc Tăng tài trong lịch sử Phật giáo, đã có ảnh hưởng rõ rệt và tạo tiền đề cho các vùng lân cận nói chung và Phật giáo Hà Nam phát triển rõ rệt.
Công trình Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ nước, tác giả Nguyễn Hồng Dương và Thượng Tọa Thích Thọ Lạc (đồng chủ biên). Nhằm tìm hiểu, đánh giá vai trò của Phật giáo trong bước đầu của Nhà nước Đại Việt. Đây là tập hợp những bài báo cáo khoa học về những vấn đề chung về Phật giáo Việt Nam thời Đinh và Tiền Lê, những nhân vật và các sự kiện Phật giáo Việt Nam trong triều đại này. Với vai trò là một trung tâm Phật giáo được hình thành và phát triển trước so với vùng Phật giáo Hà Nam Và Nam Định, Phật giáo Ninh Bình trong triều đại này có ảnh hưởng rõ rệt và tạo tiền đề cho Phật giáo các vùng lân cận nói chung và vùng Hà Nam nói riêng phát triển. Nói về vấn đề này, có thể kể đến bài viết của tác giả Nguyễn Văn Trò, “Diện mạo Phật giáo ở Kinh đô Hoa Lư và vùng phụ cận”, trang 239 đến 243, tác giả nhấn mạnh:
“ Ở kinh đô Hoa Lư và vùng phụ cận có những ngôi chùa lớn, quy tụ được các tầng lớp trí thức, sư sãi, quan lại và nhân dân…Việc phân bố các ngôi chùa ở kinh đô Hoa Lư và vùng phụ cận, chứng tỏ Phật giáo đã xâm nhập mạnh mẽ vào triều đình và các thôn xóm. Các ngôi chùa lớn là những trung tâm văn hóa thời Đinh – Tiền Lê và được kế thừa trong các thời kỳ Lý – Trần – Lê – Nguyễn cho đến ngày nay, nhiều ngôi chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của Phật giáo trong tiến trình lịch sử dân tộc”.
Hoặc vào thời hậu Lê có nhắc đến ngôi chùa: “Chùa Tế Xuyên, Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Chùa được dựng lên trên một gò đất cao của dải đất Long Xuyên tựa như đóa hoa sen mọc giữa bùn lầy. Ngôi chùa Tế Xuyên cũng như bao ngôi chùa Việt Nam khác đã được tổ tiên tạo dựng lên làm nơi quy hướng tâm linh hướng về tinh thần từ bi - trí tuệ - nhẫn nhục - hỷ xả - đoàn kết hòa hợp của đức Phật, ngõ hầu mọi người cùng nhau xây dựng quê hương giáo dục con cháu sống cuộc sống hữu ích tốt đẹp. Chùa cũng là nơi dân nghèo gửi con em tới học chữ, học đạo đức làm người qua sự dạy bảo của các thiền sư uyên thâm Phật học, giỏi Nho học, kinh nghiệm cuộc sống truyền dạy. Chùa được xây dựng từ thời Lý do ông Trần Nham phát tâm cúng tiến, nhưng sử sách không còn để lại ngay đến những vị thái ông lão bà cao tuổi nhất cho đến đại lão Hòa thượng trưởng sơn môn nay ngoài 90 cũng không tường tận, chỉ được biết đến qua một số lần trùng tu lớn. Dưới thời vua Lê- chúa Trịnh Sâm trong huyện có người con gái được chúa yêu dấu tuyển vào Phủ, tuổi già nhớ tới quê hương tổ tiền nơi chôn nhau cắt rốn bà đã về làng bỏ tiền trùng tu chùa và mua ruộng để làm ruộng công cho hai làng Tế Xuyên, Tế Cát canh tác lấy tiền tu bổ chùa cảnh. Tổ đình Tế Xuyên đã trải qua 9 đời Tổ sư, Hòa thượng trụ trì. Trong đó đặc biệt tiêu biểu nhất là Tổ đệ tam Thích Phổ Tụ”.
Ngoài ra còn có: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb. Khoa học Xã hội, 1996; Lịch Sử Phật giáo Việt Nam (tập 3), Lê Mạnh Thát, Nxb. Tổng Hợp, Tp. Hồ Chí Minh; Lê Thành Khôi, Lịch sử Việt Nam- Từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ 20, (Nguyễn Nghị chuyển Việt ngữ từ bản tiếng Pháp), Nxb. Thế giới, 2014,….
Lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định (2012) của Ban trị sự Phật giáo tỉnh Nam Định, Thế Tâm - Đồng Ngọc Hoa, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội và Lịch sử Phật giáo Ninh Bình (2017) của Nguyễn Đại Đồng - Nguyễn Hồng Dương - Nguyễn Phú Lợi, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. Đây là hai công trình được trình bày khá tổng hợp và nêu được những nét khái quát nhất của Phật giáo Nam Định và Phật giáo Ninh Bình trong tiến trình phát triển của lịch sử tỉnh Nam Định và Ninh Bình. Hai tác phẩm này, phần trình bày chính yếu, là thành công của tác giả, viết về lịch sử Phật giáo Nam Định và Ninh Bình khá chi tiết, đặc biệt, từ thời kỳ du nhập cho đến nay. Trong tác phẩm Phật giáo Ninh Bình có đề cập đến Đại hội Phật giáo Hà Nam Ninh lần thứ nhất nhiệm kỳ (1981 - 1987), Đại hội đại biểu Phật giáo Hà Nam Ninh lần thứ hai nhiệm kỳ (1987- 1992). Người viết tiếp cận tác phẩm này dưới góc độ nghiên cứu lịch sử để đưa ra những ảnh hưởng đến Phật giáo Hà Nam trước và sau khi tách tỉnh.
Các công trình kể trên là nghiên cứu về tiến trình lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập cho đến ngày nay. Nội dung chính của các công trình phân tích và trình bày các giai đoạn phát triển của Phật giáo trong lịch sử dân tộc.
Nhóm công trình để cập đến kiến trúc và Phật giáo Hà Nam
Công trình đề cập đến Phật giáo ở Hà Nam tuy không nhiều, tuy nhiên, về kiến trúc, nghệ thuật Phật giáo Hà Nam thông qua các chùa, tháp lịch sử, văn hóa cũng khá phong phú, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Địa chí Hà Nam, của Tỉnh Ủy, Hội Đồng Nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam. Trong công trình này, vấn đề Phật giáo Hà Nam được nhắc đến một cách khái lược nhất trong bat rang (824-826), trình bày tổng quan về Phật giáo từ khi du nhập vào Hà Nam cho đến nay. Công trình nhận định rằng Phật giáo Hà Nam có lịch sử lâu đời, tuy nhiên chưa xác định được chính xác lịch đại: “tuy không là nơi phát tích đạo Phật sớm nhất nước như vùng đất Luy Lâu (tỉnh Bắc Ninh)”. Và khẳng định: “nhưng Hà Nam là một trong những nơi mà đạo Phật phát triển sớm và có những trung tâm Phật giáo lớn”.
Công trình Di Tích và Danh Thắng tỉnh Hà Nam của Sở văn hóa Thông tin tỉnh Hà Nam, 2004. Nêu một cách khá đầy đủ và hệ thống về chùa, tháp Phật giáo Hà Nam – khai thác khía cạnh văn hóa vật thể của Phật giáo tỉnh. Công trình giới thiệu những nét cơ bản nhất về lịch sử hình thành và kiến trúc, điêu khắc, các thánh tích ngôi chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa tỉnh. Các chùa tiêu biểu như: Chùa Đọi Sơn, chùa Bà Đanh, chùa Khánh Long (huyện Duy Tiên), Đình chùa Châu, chùa Tiên (huyện Thanh Liêm, Đình Chùa Tế Xuyên (huyện Lý Nhân)…Công trình nhấn mạnh:
Khu di tích chùa Đọi Sơn là một điển hình của di sản văn hóa thời Lý – Trần ở Việt Nam. Đây là chùa di tích qua nhiều thế kỷ được đặt dưới sự quản lý của Nhà nước phong kiến độc lập tự chủ. Đây là chùa di tích đặc biệt quan trọng có nhiều dấu ấn văn hóa, lịch sử, là nơi thờ Phật và một số nhân vật lịch sử quan trọng của triều đại phong kiến như: vua Lê Đại Hành; vua Lý Nhân Tông; Thái hậu Phù Thánh Linh Nhân, Nguyễn Công Bật…Do vậy, các giá trị văn hóa ở đay được bảo tồn và khai thác rất tích cực, góp phần vào việc xây dựng bản sắc dân tộc. Đây là nơi di tích có giá trị trong lĩnh vực du lịch để giới thiệu những bài học nhân văn sâu sắc, những bài học duy trì và bảo tồn văn hóa Việt.
Chùa Châu, thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm đã nói tới việc vua Trần Thái Tôn lập hoàng cung ở đây, và Trần Đế Nghiên (1379) đã cho quân vận chuyển tiền đồng về để cất dấu…
Vấn đề Phật giáo Hà Nam được đề cập đến, chủ yếu qua công trình Phật giáo được nhắc đến như: Các công trình chùa tháp, kiến trúc, văn bia và văn hóa Phật giáo tại Hà Nam. Trong đó điển hình là ” tượng Phật Di Lặc bằng đồng ở chính điện; 6 pho tượng Kim Cương bằng đá, cao 1,60m; bia đá Diên Linh (dựng năm 1121), cao 2,88m, rộng 1,40m và dày 0,29cm, đặt trên đế đá chạm rồng, hình chạm khắc và hoa văn trang trí trên bia mang đậm phong cách thời Lý; 4 pho tượng hình người có cánh cao 40cm, bề ngang 30cm của chùa Đọi Sơn; chùa Bầu vẫn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá từ triều Vĩnh Thịnh năm thứ 6 (1663) như: 28 đạo sắc phong về Đức Pháp Vân Phật và đạo sắc phong cuối cùng vào năm thứ 9 vua Khải Định, một quả chuông với kích thước 0,95m, đường kính 0,57m được đúc vào mùa xuân năm thứ 3 Hoàng triều Minh Mạng (1822) và một tấm bia đá xanh cao 1,25, rộng 0,8m; Chùa Tế Xuyên còn bảo lưu được một số bộ cửa võng, nhang án thờ, câu đối, đại tự chạm khắc nhiều đề tài sinh động có giá trị về nghệ thuật; chùa Bà Đanh ngoài tượng Bồ Tát còn có tượng Nam Tào, Bắc Đẩu, Thái Thượng Lão Quân và các tượng của tín ngưỡng Tứ Phủ, một tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tương truyền rằng vào thế kỷ thứ VII, đây là một ngôi đền nhỏ thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện); chùa Khánh Long, xã Châu Giang, huyện Duy Tiên có một số thờ tự có giá trị về mặt nghệ thuật và giá trị lịch sử lâu đời: như cây hương đá đặt trước cửa chùa, được tạo tháng 7 niên hiệu Chính Hòa thứ 21 (1700), đặc biệt có quả chuông lớn được đúc vào niên hiệu Cảnh Thịnh (1801).
Nguồn tài liệu văn khắc cổ
Chúng tôi đặc biệt quan tâm và coi trọng mảng tư liệu văn khắc, chủ yếu là văn bia (chùa, tháp) và minh chuông. Đây là những sử liệu đáng tin cậy vì đa phần chúng được xuất hiện đồng thời với sự kiện ghi trong văn bản nên đã được người đương thời dò xét; mặt khác tác giả của nó thường không chỉ một người mà nhiều người, thậm chí là cả một tập thể nên đã có sự tổng hợp, lựa chọn thông tin. Cho đến hiện tại, phần nhiều các tư liệu này vẫn còn hiện hữu trong các chùa, tháp; nhưng cũng có một số bia đã bị hủy hoại từ lâu, hoặc chỉ là tấm đá với vài dòng văn khắc không rõ nét: chùa Tế Xuyên lưu giữ một lượng lớn khoảng 1700 bản kinh bằng gỗ có kích thước trung bình khoảng 25x35cm, ngoài ra, ....(còn tiếp)